Tiếng hét của Bàng Xung đã thu hút không ít người. Chẳng bao lâu sau, ngày càng có nhiều người biết rằng nhóm người ngoài vừa mới đến làng hôm qua lại chết thêm một người.
Lòng người trong làng bắt đầu hoang mang. Một số người vốn nhát gan nhưng cũng khá lanh lợi đã lén thu dọn những món đồ có giá trị, định nhân lúc mọi chuyện còn chưa trở nên nghiêm trọng thì trốn xuống núi.
Một hai giờ sau, những người lén xuống núi lần lượt quay trở về, ai nấy đều mang vẻ mặt ủ rũ, đồng thời đem theo một tin xấu.
Hóa ra nửa đêm hôm qua, sườn núi lại xảy ra sạt lở, rất nhiều cây lớn bị đất đá cuốn đổ, chắn ngang con đường duy nhất dẫn xuống núi.
Người dưới chân núi hiện đã nhận được tin, đang tìm đội thi công đến mở đường, nhưng theo dự tính thì ít nhất cũng phải mất một hai ngày nữa mới có thể thông đường.
Nói cách khác, trong khoảng thời gian này, người trong làng không thể xuống núi, mà người bên ngoài cũng không thể lên được.
Sử Nhân và những người khác đều hiểu, đây có lẽ chính là sức mạnh bí ẩn của 《Mười Vạn》 đang âm thầm chi phối mọi thứ. Nó cố tình biến ngôi làng nhỏ này thành một nơi tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài, khiến bọn họ không thể tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài.
Hiện giờ, bọn họ chỉ có thể ở lại ngôi làng khép kín này và cố gắng sống sót qua hai ngày rưỡi còn lại.
“Con gái tôi chết oan quá. Một đứa trẻ ngoan như vậy, rốt cuộc đã đắc tội với ai mà người ta phải hại nó chứ?”
“Mấy bà già lắm miệng trong làng còn nói con gái tôi đắc tội với Hỏa thần. Tôi khinh! Từ nhỏ tôi đã dạy nó không được chạy lung tung trong từ đường, phải kính trọng tượng thần. Nó đâu có giống con trai Vương Lão Nhị, hồi nhỏ còn dám tè ngay trong từ đường…”
Bà lão mù vừa lẩm bẩm vừa lau nước mắt.
Bà là một góa phụ, một mình vất vả nuôi con gái khôn lớn. Bây giờ con gái đột nhiên chết thảm, bà muốn báo cảnh sát để đòi lại công bằng nhưng người trong làng lại hết lần này đến lần khác ngăn cản, trong lòng làm sao có thể không ấm ức?
Bà biết rõ những người trong làng đang nói gì sau lưng.
Bọn họ đều cho rằng những người chết đều tự nhiên bốc cháy, rất có thể là Hỏa thần trong từ đường biết từ đường sắp bị phá dỡ nên nổi giận, giáng thần phạt xuống để trừng trị những người này.
Cũng vì lời đồn ấy mà các bô lão trong làng ép gia đình của hai nạn nhân trước đó không được báo cảnh sát. Bọn họ sợ chuyện này làm lớn lên, đến lúc đó cả làng đều sẽ gặp họa.
Nhưng bà lão mù trước mặt lại không tin những lời đó.
Từ đường trong làng vốn đã là chuyện của mấy chục năm trước, bây giờ còn có bao nhiêu người thật sự tin vào những thứ ấy?
Những gia đình có điều kiện tốt hơn trong làng từ lâu đã chuyển mộ tổ tiên xuống nghĩa trang dưới chân núi. Trong từ đường, ngoài vị tổ tiên trong truyền thuyết của dòng họ Bành là Chúc Dung, cũng chỉ còn lại một số linh vị của những người già cô độc không có con cháu thờ cúng.
Ngoài ông già được thuê quét dọn từ đường, quanh năm chẳng có mấy người bước vào nơi đó.
Từ đường đã sớm xuống cấp, lần cuối cùng được sơn sửa lại những bức tường và cột trụ cũng đã là chuyện của bốn, năm mươi năm trước.
Nếu Hỏa thần thật sự tồn tại, vậy chẳng phải đã nổi giận từ mấy chục năm trước rồi sao?
Sau khi biết Cố Sở là cảnh sát hình sự đến đây điều tra vì nhận được tin báo, bà lão lập tức kể hết những gì mình biết, chỉ mong cô có thể giúp con gái mình đòi lại công bằng.
Một trong hai người dân làng chết trước Mã Đại Quân là một người đàn ông trung niên bốn mươi bảy tuổi. Khi chuyện xảy ra, vợ ông ta vừa về nhà mẹ đẻ, còn người đầu tiên phát hiện thi thể lại chính là cậu con trai út sống ở căn nhà bên cạnh.
Người còn lại chính là con gái của bà lão.
Cô gái mới hai mươi mốt tuổi, tốt nghiệp trung cấp và đang làm y tá ở bệnh viện dưới chân núi. Vài ngày trước, cô vừa được nghỉ nên mang theo một ít đồ dùng sinh hoạt mua dưới núi về thăm người mẹ mù của mình. Không ai ngờ chuyến về thăm ấy lại trở thành lần cuối cùng cô được nhìn thấy mẹ.
Người đàn ông trung niên là người đầu tiên chết vì tự bốc cháy. Thi thể của ông ta đã được chôn cất, cả gia đình cũng đã chuyển xuống chân núi.
Không có sự đồng ý của gia đình, người trong làng đương nhiên không cho phép khai quật mộ để khám nghiệm tử thi.
Nhưng bà lão mù trước mặt lại cứng đầu đến cùng, nhất quyết muốn đòi công lý cho con gái. Bà thà để thi thể con mình nằm đó thối rữa giữa mùa hè cũng không chịu đem chôn.
Cố Sở đã kiểm tra thi thể cô gái rất kỹ. So với thi thể của Mã Đại Quân, tình trạng của cô gái gần như giống hệt nhau, chỉ khác ở chỗ da mặt đã bị lấy đi, trên ngực cũng mất một mảng da lớn.
Nhìn từ hai nạn nhân trước, có vẻ như việc ở một mình thật sự là nguyên nhân dẫn đến cái chết.
Nhưng Mã Đại Quân tối qua vẫn luôn ở cùng Sử Nhân, hai người chưa từng tách khỏi nhau.
Vậy cái gọi là “chia ly” rốt cuộc có ý nghĩa gì?
Chẳng lẽ nguyên nhân khiến bọn họ chết không đơn giản như những gì nhìn thấy trước mắt?
Trên đường trở về, Cố Sở vẫn cẩn thận suy nghĩ về vấn đề này.
Rời khỏi nhà bà lão mù, trên đường quay về nhà trưởng làng, bọn họ sẽ đi ngang qua từ đường nằm ngay giữa làng.
Từ đường chiếm một khoảng đất khá lớn, đứng giữa những căn nhà mái ngói cũ kỹ xung quanh trông càng nổi bật. Qua cánh cửa đang mở, có thể nhìn thấy một chiếc lư hương bằng đồng xanh đã phủ đầy rỉ sét đặt giữa sân, đủ để thấy nơi này từng có thời gian hương khói rất thịnh vượng.
Nhưng bây giờ, một nửa bức tường đã sụp xuống, lớp sơn vốn từng tinh xảo cũng bong tróc gần hết. Vài cây cột chống đỡ mái nhà đã bị mối mọt ăn mục, khiến cả từ đường trông lung lay như có thể đổ xuống bất cứ lúc nào.
Cố Sở đứng bên ngoài nhìn một lúc.
Đột nhiên, ánh mắt cô khựng lại.
Lúc này, phản ứng của cơ thể nhanh hơn suy nghĩ. Cố Sở theo bản năng lùi lại vài bước, sau đó quay đầu nhìn sang bên cạnh.
Không biết từ lúc nào, phía sau cô đã xuất hiện một người phụ nữ.
Giữa trưa nắng, người phụ nữ ấy vẫn mặc áo dài tay và quần dài, làn da hơi vàng, khuôn mặt bình thường đến mức chẳng có gì đáng chú ý.
Cô ta nhìn chằm chằm vào Cố Sở.
“Da của cô thật đẹp.”
Ánh mắt sâu hun hút của người phụ nữ khiến Cố Sở cảm thấy một luồng khí lạnh theo ánh nhìn ấy lan khắp cơ thể.
Nói xong, cô ta không chờ Cố Sở phản ứng mà từ từ nhếch miệng cười. Sau đó, cô ta xách chiếc giỏ trong tay, chậm rãi đi về phía từ đường cách đó không xa.
Cố Sở đứng yên tại chỗ, nhìn bóng lưng người phụ nữ khuất dần sau cánh cửa từ đường, trong lòng âm thầm cảnh giác.
Khi Cố Sở trở về nhà trưởng làng, Sử Nhân và những người khác đã về từ lâu.
Lúc này, bọn họ đang ngồi quanh bàn ăn, vừa chờ cơm vừa nghe trưởng làng kể lại những chuyện xưa trong làng.
“Bây giờ trong làng chẳng còn mấy người tin vào những chuyện đó nữa, nhưng hồi tôi còn nhỏ, những người lớn tuổi trong làng đều tin Hỏa thần thật sự tồn tại.”
Trưởng làng có khuôn mặt đầy nếp nhăn, mái tóc đã hoa râm. Chuyện ông kể từ thời còn nhỏ, ít nhất cũng phải cách đây sáu, bảy mươi năm.
“Hồi đó, từ đường là nơi cấm kỵ. Trừ những ngày đặc biệt, ngay cả tộc trưởng cũng không được tùy tiện bước vào nửa bước. Mỗi khi đến ngày lễ, chỉ có đàn ông trong dòng họ mới được vào…”
Trưởng làng nheo mắt, như đang cố nhớ lại thời mà từ đường từng có vị trí quan trọng đến mức nào trong lòng người dân nơi đây.
Sự thay đổi bắt đầu từ những năm phá tứ cựu.
Khi ấy, một nhóm người từ dưới núi đi lên, đập phá từ đường của làng, nói rằng những thứ này đều là tư tưởng lạc hậu và mê tín.
Năm đó, rất nhiều người trong làng đã xảy ra xung đột với nhóm người kia, nhưng cuối cùng vẫn không thể chống lại dòng chảy của thời đại. Bọn họ chỉ có thể đứng nhìn từ đường bị phá hủy, tượng thần bị đập vỡ rồi đốt cháy.
Sau đó, những người từ dưới núi cho rằng tư tưởng của dân làng cần phải được thay đổi. Họ cử vài thanh niên trí thức lên đây dạy chữ cho người lớn trong làng, đồng thời bắt buộc trẻ em trong làng phải xuống núi đi học để tiếp nhận nền giáo dục mới.
Theo thời gian, những người cố chấp nhất lần lượt qua đời, còn những đứa trẻ ngày trước cũng lớn lên, dần quên mất tín ngưỡng của tổ tiên.
Thậm chí có người còn đem chuyện ma quỷ ra làm trò cười.
Vài năm sau khi phong trào phá tứ cựu qua đi, làng cũng sửa sang lại từ đường, nhưng mục đích chỉ là để làm nơi đặt những linh vị không có con cháu thờ cúng.
“Nếu không phải ngày quan trọng thì ngay cả tộc trưởng cũng không được bước vào từ đường, vậy ai phụ trách việc thờ cúng hằng ngày?”
Sử Nhân có một người mẹ rất tin Phật nên anh biết tín ngưỡng đối với những người thật sự tin tưởng quan trọng đến mức nào. Ngày nào cũng phải thắp hương, cúng bái, nhà nào cẩn thận thì hương khói gần như không bao giờ tắt.
Dòng họ Bành ngày xưa lại sùng bái Hỏa thần đến như vậy, chẳng lẽ chưa từng nghĩ đến chuyện này sao?
“Có vu nam mà.”
Trưởng làng ném đầu thuốc xuống đất rồi dùng mũi giày dập tắt.
“Cái lão già này, lại vứt đầu thuốc xuống đất nữa rồi. Cái gạt tàn con trai mua cho ông chỉ để trưng thôi à?”
Vợ trưởng làng bưng một bát canh gà từ trong bếp đi ra, vừa nhìn thấy hành động của chồng đã không nhịn được mà mắng một câu.
“Thói quen, thói quen thôi mà.”
Trưởng làng ngượng ngùng nhìn Sử Nhân và những người khác, rõ ràng cảm thấy bị vợ mắng trước mặt một đám người trẻ khiến mình rất mất mặt.
“Trưởng làng, ông có thể kể cho chúng tôi nghe về vu nam được không?”
Cố Sở vừa lúc đi vào, kéo ghế ngồi xuống chỗ còn trống. Bây giờ cô đặc biệt quan tâm đến tất cả những chuyện có liên quan đến từ đường.
“Được chứ, nhưng chuyện này cũng đã là chuyện của mấy chục năm trước rồi.”
Trưởng làng vốn đang muốn tìm một chuyện gì đó để chuyển sự chú ý của mọi người. Thấy Cố Sở quan tâm đến vu nam, ông lập tức có hứng thú, bắt đầu kể lại.
“Rất lâu về trước, vu nam cũng là một truyền thống của dòng họ Bành. Vu đồng chỉ được chọn trong số các bé trai. Mỗi khi vu nam đời trước cảm thấy đã đến lúc chọn người kế nhiệm, ông ta sẽ chọn một đứa trẻ khoảng ba đến năm tuổi trong làng, có ngày sinh tháng đẻ phù hợp để phụng sự Hỏa thần.”
Trưởng làng vừa kể vừa cảm thán.
Được chọn làm vu nam thật ra chẳng phải chuyện gì tốt đẹp.
Một khi được chọn, đứa trẻ ấy sẽ trở thành người hầu của thần linh, cả đời phải cống hiến cho vị thần mà mình phụng sự. Nó không được rời khỏi từ đường, không được kết hôn, cũng không được sinh con.
Từ ngày được chọn, cuộc đời của đứa trẻ ấy gần như đã không còn thuộc về chính mình.
Thế nhưng trong thời đại con người cuồng tín và sùng bái thần linh, rất nhiều gia đình có con trai được chọn lại xem đó là một niềm vinh dự.
“Hồi đó trong làng chỉ có hai đứa trẻ phù hợp với độ tuổi, tôi cũng là một trong những đứa trẻ được chọn làm vu đồng. Nhưng ngũ hành của tôi thiên về Thủy, bát tự lại không tốt, nên cuối cùng thầy vu chọn đứa trẻ còn lại.”
Mỗi khi nhắc đến chuyện này, trưởng làng đều cảm thấy mình vô cùng may mắn.
“Vậy sau khi phá tứ cựu, thầy vu trong từ đường đã đi đâu?”
Cố Sở lập tức hỏi tiếp.
“Ài…”
Trưởng làng thở dài, đưa tay sờ vào túi thuốc lá, rõ ràng lại muốn hút một điếu.
“Ông thầy vu già đã thờ phụng thần linh suốt nửa đời người, lòng tin rất sâu. Khi những người từ dưới núi lên muốn đập phá tượng thần, ông không chịu để bọn họ làm vậy nên đã đánh nhau với họ. Cuối cùng, ngay trong đêm tượng thần bị đập phá, ông tự thiêu mình trong từ đường…”
Nhắc đến chuyện này, trưởng làng cũng không khỏi cảm thấy tiếc nuối.
Thầy vu già đã sống trong từ đường suốt nửa đời người, ngoài việc thờ cúng thần linh thì gần như chẳng biết làm gì khác. Ông không có vợ con ở bên, cả đời chỉ có Hỏa thần làm chỗ dựa tinh thần.
Tượng thần bị phá hủy, đối với ông chẳng khác nào người ta đã đập tan luôn cả lý do để ông tiếp tục sống.
“Còn người kia…”
“Người kia chính là Bành Hạnh.”
Vợ trưởng làng bưng một nồi cơm đi tới, vừa nói vừa chia bát đũa cho mọi người.
“Tôi chưa từng gặp ông ấy. Khi tôi về đây làm dâu thì từ đường đã bị phá từ lâu rồi, nhưng những chuyện về ông ấy thì tôi nghe người trong làng kể không ít.”
“Bành Hạnh được chọn làm vu đồng từ năm bốn tuổi, ở trong từ đường suốt chín năm. Đến năm mười ba tuổi mới được rời khỏi đó. Nhưng ngoài quét dọn, tụng kinh và thắp hương, ông ấy chẳng biết làm gì khác.”
“Gia đình ông ấy chê ông ấy không làm được việc đồng áng, lại còn từng là vu đồng, nên cuối cùng đã đuổi ông ấy ra khỏi nhà.”
Vợ trưởng làng nói đến đây thì tỏ vẻ thương cảm.
Gia đình đó quả thật quá đáng.
Năm Bành Hạnh được chọn làm vu đồng, người trong làng đã cho gia đình ông ta không ít lợi ích, bọn họ khi ấy cũng từng lấy chuyện con trai được chọn làm vu đồng làm niềm tự hào.
Nhưng sau khi từ đường bị phá, thân phận vu đồng lại trở nên nhạy cảm. Gia đình ấy sợ Bành Hạnh sẽ liên lụy đến mình nên chẳng những không bảo vệ con trai mà còn thẳng tay đuổi ông ra khỏi nhà.
Bọn họ hoàn toàn không nghĩ đến chuyện một đứa trẻ mới mười ba tuổi, từ nhỏ chỉ biết sống trong từ đường, đến việc đồng áng cũng không biết làm thì có thể kiếm đủ công điểm để tự nuôi sống bản thân hay không.
Cũng phải thôi.
Thời đó, nhà nào cũng sinh rất nhiều con, đối với một đứa trẻ mà họ mới nuôi được mười mấy năm, có lẽ thật sự chẳng có bao nhiêu tình cảm.
Sau đó suốt hơn mười năm, cuộc sống của Bành Hạnh vô cùng khổ sở. Đến hai, ba mươi tuổi, ông vẫn không lấy được vợ.
“May mà khổ tận cam lai. Sau này thời cuộc thay đổi, Bành Hạnh đi làm thuê ở nơi khác. Nghe nói ông ấy làm việc khá giỏi, sau này còn tự mình nhận thầu một số công trình nhỏ. Có tiền rồi mới lấy vợ, sinh con, bây giờ cũng đã lên chức ông nội.”
“Đúng rồi, ông già, lần này di dời từ đường, Bành Hạnh có về không?”
Vợ trưởng làng tò mò hỏi chồng.
Nói ra cũng thật kỳ lạ.
Ngày trước, người ta hô hào đập phá từ đường, vậy mà mấy chục năm sau, nơi này lại được nhắc đến như một công trình có khả năng là di tích văn hóa.
Bây giờ làng Hỏa Thần chuẩn bị di dời xuống núi, còn chuyện có giữ lại từ đường hay không vẫn phải chờ chính quyền cân nhắc.
Thân phận của Sử Nhân và những người khác chính là đặc phái viên, được cử đến đây để kiểm tra xem từ đường có giá trị bảo tồn hay không.
“Về, sao lại không về.”
Vợ trưởng làng đã bưng cơm lên hết, trưởng làng chỉ có thể tiếc nuối nhét điếu thuốc vừa lấy ra vào lại túi.
“Ài, trước đây chúng ta cứ nghĩ từ đường đã hoang phế như vậy, sớm muộn gì cũng phải phá bỏ, trong lòng còn có chút không nỡ. Chúng ta còn như thế, huống chi là Bành Hạnh.”
“Cho dù năm đó ông ấy từng phải chịu khổ vì thân phận vu đồng, dù sao cũng đã sống trong đó chín năm. Trong từ đường còn đặt linh vị của ông thầy vu già đã nuôi dưỡng ông ấy, kiểu gì ông ấy cũng phải trở về thắp hương một lần.”
“Ăn cơm, ăn cơm đi. Mọi người tự lấy nhé, chưa no thì trong nồi vẫn còn. Con gà này là gà mái già nhà tôi nuôi đấy, thịt hơi dai nhưng bổ lắm.”
Cơm canh đã được dọn lên, trưởng làng nhiệt tình mời mọi người ăn.
“Trước đây tôi có liên lạc với Bành Hạnh, ông ấy đã đến huyện rồi. Chỉ là đường lên núi hiện đang bị chặn, phải đợi đường thông thì ông ấy mới lên được. Nếu mấy người thật sự quan tâm đến chuyện vu nam, đợi Bành Hạnh lên núi rồi tôi sẽ giới thiệu ông ấy cho mọi người.”
Bọn họ đã chạy tới chạy lui bên ngoài cả ngày, lúc này quả thật cũng đã đói.
Dù trên cổ vẫn luôn như có một con dao vô hình treo lơ lửng, bọn họ cũng không thể vì sợ hãi mà để bản thân chết đói được.
Nghĩ theo hướng bi quan nhất thì cho dù tối nay có chết thật, ít nhất cũng phải làm một con ma no bụng.
Với suy nghĩ đó, Vu Hồng và những người khác miễn cưỡng nở một nụ cười lịch sự, cầm bát lên bắt đầu lấy cơm.
≧◔◡◔≦
------------------------------
Toidoc.org lưu truyện bạn đang đọc tại 


-495035.jpg&w=256&q=75)
-250407.png&w=256&q=75)